Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013

Điềm Gở Báo Trước Cho "Lũ cs Hà Nội Việt gian "

 Trong Thế Giới Tâm Linh : Qua Loạt Bài Điềm Gở Báo Trước Cho đảng của "Lũ Việt gian" 

1/ Núi Lang Biang sạt lở, điềm suy tàn của chế độ

           image
     
      Lời thầy dạy - Vạn vật vô thường, đổi thay là quy luật của tạo hóa. Luật này không miễn trừ cho bất cứ ai hoặc định chế nào. Quy luật huyền biến của vũ trụ, sự vật thịnh rồi lại suy, suy rồi lại thịnh, nên mới tiến bộ theo thời, cái mới ra đời thay thế cái cũ lạc hậu phải ra đi. Nhưng trước khi sự việc thay đổi xảy ra đều có hiện tượng báo trước mà nhiều khi con người không để ý. Hiện tượng đó được gọi là “Điềm”.

"Điềm" là hiện tượng bất thường dẫn đến một suy nghiệm tiên tri, hoặc chứng nghiệm về một sự kiện sẽ xảy đối với cuộc sống con người được xác định đúng trong tương lai.

           image

Có hai yếu tố xác quyết liên quan đến khái niệm "Điềm" như sau:

1- Phải có yếu tố dự đoán về một sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai và được chứng nghiệm đúng.

Thí dụ như, vài tuần trước khi xảy ra trận động đất và sóng thần năm 2011, các ngư dân tại các vùng phía Đông Bắc nước Nhật phát hiện nhiều con cá Oarfish dính trong lưới. Họ cho là“Điềm gở” và dự đoán nước Nhật sẽ gặp chuyện chẳng lành.

Đúng như dự đoán, ngày 11/03/2011, một trận động đất có tâm chấn cách thủ đô Tokyo 382 km về phía Đông Bắc đã xảy ra. Với cường độ 9 độ Richter, trận động đất dữ dội nhất trong lịch sử nước Nhật, gây ra nhiều cơn sóng thần khủng khiếp tàn phá miền Đông Bắc nước Nhật, làm cho 19.000 người thiệt mạng, các ngôi làng gần biền bị tàn phá hoàn toàn.

Sau khi nghiên cứu dự đoán của các ngư dân, cơ quan truyền thông Iore của Nhật loan báo, Oarfish là loại cá hiếm, mình dẹp và có chiều dài như rắn, chỉ sống ở độ sâu vài trăm thước dưới mặt nước, tập trung trong các đường nứt của vòng đai lửa, loại cá này đã bị đẩy lên mặt nước bởi các chấn động thông thường trước khi trận động đất lớn xảy ra.

2- Có thể hiện tượng bất thường xảy ra không có dự đoán, nhưng sau khi sự kiện đã xảy ra thì có sự liên hệ đến hiện tượng bất thường trước đó.

Thí dụ như, sau trận động đất 7 độ Richter ở Tứ Xuyên vào ngày 12/5/2008, dân cư trong vùng mới nhớ đến một hiện tượng bất thường xảy ra trước đó, là ếch nhái rời bỏ chỗ ở di cư hàng loạt ra khỏi Tứ Xuyên. Hiện tượng bất thường này được coi là “Điềm”.

Như vậy, “Điềm” là dấu hiệu báo trước sự kiện bất thường sắp xảy ra. Nó được phân ra hai loại:

- Điềm lành báo trước sẽ gặp sự việc tốt đẹp. Chẳng hạn như cây thiên tuế trước nhà trổ hoa hay trong sân vườn có cây hoa đẹp nở nghịch mùa thì chủ nhà sắp được tài lộc.

- Điềm gở báo trước sự việc chẳng lành sắp đến. Như mưa sao băng, núi bị sạt lở, bầu trời không có mây đen (chuyển mưa) mà có sấm động (sấm sét), cột cờ gẫy trước khi ra chiến trận, mực nước tại bãi biển tự nhiên bị rút ra xa…

Trong cuốn “Những ngày cuối cùng của Mao Trạch Đông”, viết theo lời kể của Tiểu Mạch (người chăm sóc sức khỏe cho Mao suốt 20 năm), thuật lại câu chuyện xảy ra vào những ngày cuối đời Mao như sau:

“Chiều thứ Tư ngày 10/3/1976, cô thư ký đọc báo cho Mao nghe, vào ngày thứ Hai 8-3-1976 có một thiên thạch rơi với tốc độ lớn vào khí quyển địa cầu, cháy sáng như một quả cầu lửa khổng lồ rồi phát nổ trên vùng trời ngoại ô Cát Lâm. Thiên thạch nổ bắn ra khắp nơi, tạo thành trận mưa thiên thạch. Trong đó có 3 tảng lớn rơi xuống tạo thành hố sâu. Tảng lớn nhất nặng gần 1.8 tấn.

Mao nghe xong, nhờ người đỡ ngồi dậy ra đứng bên cửa sổ nhìn ra ngoài, rồi trầm ngâm nói:"Trung Hoa có một thuyết gọi là Thiên Nhân Cảm Ứng, ngụ ý nói nếu nhân gian sắp xảy ra một biến cố lớn thì thiên nhiên sẽ có những điềm báo trước. Trời long, đất lở, đá lớn từ trên không rơi xuống là điềm gở. Trong Tam Quốc diễn nghĩa, trước khi Gia Cát Lượng, Triệu Vân, Quan Công qua đời đều xảy ra các hiện tượng bất thường như sao rụng, đá rơi".

Sau hơn 4 tháng, vào ngày 28/7/1976, trận động đất kinh hoàng xảy ra tại Đường Sơn (Hà Bắc) làm thiệt mạng hơn 240 ngàn người và 160 ngàn người bị thương. Không biết chuyện thiên thạch rơi và cơn động đất có tác động gì đến sức khỏe của Mao không, nhưng đến ngày 9/9/1976 thì Mao qua đời. Dư luận cho rằng, 3 tảng thiên thạch lớn rơi xuống đất là điềm báo hiệu đảng CS Trung Quốc mất 3 nhân vật cao cấp trong năm 1976, đó là Tổng tư lệnh quân đội Chu Đức, Thủ tướng Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông”.

Năm 1976 là năm có 3 tháng dương lịch 1, 2, 3, ngày dương lịch đều trùng với ngày âm lịch. Từ ngày 1-1-1976 (mùng 1 tháng Chạp năm Ất Mão) đến ngày 30-3-1976 (30 tháng Hai năm Bính Thìn).

Và đầu năm 1997, sau cơn sao bang, một tảng thiên thạch lớn rơi xuống tỉnh Sơn Đông, 4 ngày sau, Đặng Tiểu Bình chết lúc 9 giờ tối thứ Tư ngày 19-2-1997. Đặng Tiểu Bình là người gây ra cuộc chiến tranh Trung-Việt vào năm 1979, đã đẩy 300 ngàn quân tấn công Việt Nam để cũng cố quyền lực cá nhân. Đặng cũng chính là người đã nói câu “Việt Nam là bọn côn đồ, phải dạy cho bọn chúng một bài học” trong chuyến viếng thăm mấy nước Á châu vào tháng 12 năm 1978.

Còn Sấm ký là những dự báo hợp lý, được đưa ra trước để tiên tri những điều sẽ xảy ra trong tương lai, nhưng rất khó bàn. Như Sấm Trạng Trình là cuốn sách ghi lại những lời tiên tri của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm về các biến cố chính của nước Việt Nam trong khoảng hơn 500 năm (từ năm 1509 đến năm 2019).

Chẳng hạn như câu Sấm “Bao giờ trúc mọc qua sông, Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây” nói về thời Tây Sơn, Tôn Sĩ Nghị đem quân xâm chiếm nước Nam. Khi đến thành Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị cho quân bắc một cây cầu nổi bằng tre ngang sông Hồng. Sau khi dẹp được giặc Thanh ở trận Ðống Ða vào năm Kỷ Dậu (1789), đức Nguyễn Huệ lên ngôi xưng là Quang Trung Hoàng Ðế (từ trúc để chỉ tre và non Tây là nhà Tây Sơn).

Sấm giảng là quyển sách ghi lại những lời dạy dỗ về đạo pháp của một bậc thầy, khuyên người đời làm lành lánh dữ và trong đó có nhiều lời tiên tri về một số các biến cố chính trị của đất nước sắp xảy ra. Như quyển “Khuyên người đời Tu niệm” của đức Huỳnh Phú Sổ, giáo chủ đạo Hòa Hảo viết vào năm 1939 (Kỷ Mão).

Và Cơ bút là nghi lễ cầu cơ và chấp bút, là nền tảng của đạo Cao Đài. Cơ bút được cho là đã khai sinh ra và là phương tiện truyền giảng đạo pháp của tôn giáo này. Cầu cơ và chấp bút là những phương pháp thông linh, đạo Cao Đài gọi là những phương pháp Thông Công.


2/ Con hãy phân biệt và ghi nhớ.

           image
Lang Biang là hai ngọn núi nằm cách thành phố Đà Lạt khoảng 12 km, thuộc địa phận huyện Lạc Dương tỉnh Lâm Đồng. Đỉnh Lang Biang nằm ở độ cao 2167 m so với mặt biển.

Ngày xưa người Thượng (dân tộc thiểu số) sống trong vùng này gọi một ngọn núi là Klăng (núi Ông) và ngọn núi kia là Biêng (núi Bà), ghép chung thành Klăng Biêng. Về sau người Pháp phiên âm là Lang Biang, sau đó người Kinh đổi thành Lâm Viên, gọi vùng cao nguyên này là cao nguyên Lâm Viên.

Lang Biang được ví như “nóc nhà” của Đà Lạt và được xem như một biểu tượng của thành phố này. Trên núi có thể nhìn thấy Suối Vàng và Suối Bạc và toàn cảnh Đà Lạt với mây trắng và sương mù.

Do nằm ở độ cao, Lang Biang được xem là một trong những ngọn núi cao nhất vùng, hiện nay được xem là khu du lịch, nơi tìm hiểu nét văn hóa dân tộc thiểu số và còn là điểm thu hút du khách thích mạo hiểm chinh phục đỉnh cao.

Đà Lạt

               
          

   Thành phố Đà Lạt nằm trên cao nguyên Lang Biang, phía bắc tỉnh Lâm Đồng. Bắc giáp với huyện Lạc Dương. Đông và Đông Nam giáp với huyện Đơn Dương. Tây và Tây Nam giáp với hai huyện Lâm Hà và Đức Trọng. Hàng trăm năm trước, Đà Lạt là địa phận cư trú của người Lạch và người Cil. Thành phố Đà Lạt có diện tích hơn 400 km², bao bọc bởi các ngọn núi cao và nhiều dãy núi liên tiếp:

- Phía Bắc và Tây Bắc giới hạn bởi dãy Chorơmui, Yô Đa Myut (1816 m).


- Tây Bắc dựa vào chân dãy núi Chư Yang Kae (1921 m), thuộc quần sơn Lang Biang mà đỉnh cao nhất là Chư Yang Sinh (1408 m).


- Phía Đông là chân dãy núi Bi Doup (2278 m), dốc xuống cao nguyên Dran.


- Phía Đông Nam chắn bởi dãy Cho Proline (1629 m).


- Phía Nam và Tây Nam có dãy núi Voi (1.754 m) và Yàng Sơreng bao bọc.


Đà Lạt có nhiều nhiều dinh thự và biệt thự đẹp xây cất theo kiểu kiến trúc của người Pháp. Nơi cao nhất trong trung tâm thành phố là Bảo Tàng Viện và nơi thấp nhất là thung lũng Nguyễn Tri Phương.


       Bác sĩ Alexandre Yersin


              
Trước năm 1893, cao nguyên Lang Biang là nơi cư trú của các sắc tộc người Thượng. Người Kinh đầu tiên muốn khám phá vùng rừng núi Nam Trung Bộ là Nguyễn Thông, nhưng do nhiều khó khăn, nên mãi đến cuối đời ông vẫn không thực hiện được ý định.

- Năm 1880 và 1881, bác sĩ Hải quân Paul Néis và trung úy Albert Septans có những chuyến thám hiểm đầu tiên vào vùng cao nguyên này. Họ được xem là người đầu tiên đặt chân đến Lang Biang, mở đường cho nhiều chuyến đi về sau của A. Gautier (năm 1882), L. Nouet (1882), Humann (1884).


- Ngày 3/8/1891, bác sĩ Alexandre Yersin thực hiện chuyến thám hiểm đầu tiên với ý định tìm đường núi từ Nha Trang vào Sài Gòn, nhưng chuyến đi này thất bại.


Năm sau, Yersin thực hiện một cuộc thám hiểm từ Nha Trang, băng qua vùng cao nguyên Đắc Lắc đến Stung Treng, nằm bên bờ sông Mekong (địa phận Miên).


- Tháng 1/1893, Yersin nhận nhiệm vụ từ toàn quyền Jean Marie Antoine de Lanessan, 3 lần đi khảo sát bằng đường bộ từ Sài Gòn xuyên vào vùng người Thượng. Nhiệm vụ của Yersin là tìm hiểu tài nguyên về lâm sản, khoáng sản... Và chiều ngày 21/6/1893, Yersin đã phát hiện ra Lang Biang, nên Yersin được xem là người đầu tiên tìm ra vùng đất này.


- Ngày 1/1/1899, Doumer ký nghị định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng ở Trung Kỳ, với 2 cơ quan hành chính được thiết lập tại Tánh Linh và cao nguyên Lang Biang.


- Ngày 20/4/1916, vua Duy Tân ra đạo dụ thành lập khu thị tứ cho tỉnh Lâm Viên.


Trong hai thập niên 1900 và 1910, người Pháp đã xây dựng hai tuyến đường từ Sài Gòn và từ Phan Thiết lên Đà Lạt. Hệ thống giao thông thuận lợi giúp Đà Lạt nhanh chóng phát triển.


- Ngày 30/10/1920, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định chuẩn y đạo dụ ngày 11/10 của vua Khải Định về việc thành lập thành phố Đà Lạt cùng với tỉnh Đồng Nai Thượng nhằm biến Đà Lạt thành một trung tâm nghỉ mát ở Đông Dương.


- Năm 1941, Đà Lạt trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Viên tân lập. Thị trưởng Đà Lạt kiêm chức Tỉnh trưởng tỉnh Lâm Viên.


- Ngày 10/11/1950, vua Bảo Đại ký dụ số 4 QT/TD ấn định địa giới thị xã Đà Lạt.


Theo Địa phương chí Đà Lạt (Monographie de Dalat) năm 1953, thị xã Đà Lạt là thủ phủ của Hoàng triều Cương thổ, có diện tích là 67 km² với dân số 25.041 người.


Sau Hiệp định Genève năm 1954, dân số Đà Lạt tăng nhanh bởi lượng người di cư từ miền Bắc, Đà Lạt được phát triển như một trung tâm giáo dục và khoa học.


- Năm 1957, Đà Lạt trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Tuyên Đức. Nhiều trường học, huấn luyện và viện nghiên cứu được thành lập như: Viện Đại học Đà Lạt (1957), Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt (1959), Thư viện Đà Lạt (1960), Trường Đại học Chiến tranh Chính trị (1966), Trường Chỉ huy và Tham mưu (1967)...


- Sau năm 1975, dân số gia tăng bởi số lượng cán bộ và dân miền Bắc nhập cư lên khoảng 86 ngàn người. Và vào những năm đầu thập niên 1990, hàng loạt khách sạn, nhà hàng được sửa chữa, nhiều biệt thự được đưa vào dịch vụ du lịch... Đà Lạt trở thành một thành phố du lịch quan trọng của Việt Nam.


- Tháng 2/1976, tỉnh Tuyên Đức, tỉnh Lâm Đồng và thị xã Đà Lạt xác nhập lại thành tỉnh Lâm Đồng.


3/ Những vụ sạt lở núi

        A. Sạt lở núi Cấm
        
            
Ngày 5/5/12, đoạn gần Vồ Đầu trên tuyến giao thông nối từ chân núi với đỉnh núi Cấm, xã An Hảo (huyện Tịnh Biên) đã xảy ra vụ sạt lở vách núi kinh hoàng. Tảng đá lớn nặng khoảng 10 tấn đã lăn từ độ cao khoảng 300m xuống, đè bẹp chiếc xe 7 chỗ ngồi, làm thiệt mạng 6 người. Đây là tai nạn thảm khốc lần đầu tiên xảy ra tại vùng Núi Cấm.

B. Sạt lở núi tại Nghệ An

             
- Ngày 11/7/2013, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xảy ra vụ sạt lở núi khiến 5 người thương vong.

- Ngày 29/8/2013, đoạn đường qua xã Chiêu Lưu, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An có hàng chục nơi sạt lở nghiêm trọng, khiến đất đá từ trên núi đổ xuống quốc lộ 7A, làm cho giao thông bị tắc nghẻn.

C. Sạt lở núi tại Điện Biên

           
Ngày 23/8/2013, quốc lộ 279, đoạn đường từ huyện Tuần Giáo đi thành phố Điện Biên Phủ bị tắc nghẽn giao thông nghiêm trọng do sạt lở núi. Khu vực sạt lở được xác định tại đoạn qua xã Nà Nhạn, huyện Điện Biên. Cả một vạt núi 50 m, dài 150 m đã sạt xuống lấp ngang quốc lộ 279. Khối lượng đất đá ước khoảng 60 ngàn m3. Đây là vụ sạt lở được ghi nhận là nghiêm trọng nhất trên địa phận tỉnh Điện Biên từ xưa đến nay.

D. Sạt lở núi tại Yên Bái


            
Ngày 25/8/13 hàng trăm tấn đất đá sạt lở trên quốc lộ 32, thuộc địa phận giáp ranh giữa huyện Than Uyên và huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái, gây tắc nghẽn giao thông.

E. Sạt lở núi Lang Biang


         
Ngày 25/8/2013, núi Lang Biang có độ cao 2167m bị sạt lở tạo thành một vệt dài rộng từ đỉnh xuống chân núi.

Anh Bon Đing Đim, sống dưới chân núi cho biết trong đêm 25/8/13, âm thanh ầm ầm như sấm trời kéo dài 20 phút. Sáng ra, anh thấy ngọn núi Lang Biang như bị xẻ đôi.


Vị trí sạt lở xuất phát từ gần đỉnh núi, một lượng đá khổng lồ tuột xuống núi khoảng 500 thước, làm cho nhiều cây cổ thụ bị cuốn ngã theo tạo thành một vết đỏ dài giống như núi bị nứt đôi.


Theo cư dân địa phương, vào năm 1970, núi Lang Biang bị sạt lở một lần. Sau 43 năm, núi Lang Biang lại bị sạt lở thêm một lần nữa và lần này nghiêm trọng hơn lần trước.


Theo nhạc sĩ Krajan Plin, một vị cao niên trong làng sống lâu năm dưới chân núi cho biết, tất cả dân chúng sống ở vùng Nam Tây Nguyên đều coi ngọn Lang Biang là núi thần. Ông nhận định: "Sạt lở núi Lang Biang lần này sụp lở là hoàn toàn do thiên nhiên, bởi độ cao rất hiểm trở, chỗ sạt lở thì không ai có thể phá hoại bằng dụng cụ lao động hay máy móc".

Theo truyền thuyết, ngọn núi này là công trình tạo dựng cuối cùng của thần linh và được ví như một cái rốn trời. Núi Lang Biang được xem là nơi linh thiêng như núi Cấm (Thất sơn) vì có nhiều truyền thuyết. Các tộc người Lạch, Cil cư trú dưới chân núi đều cho rằng núi Lang Biang có một sức mạnh mà không có biến cố nào có thể làm thay đổi được. Trong cuộc sống hằng ngày, để nói đến những điều không tưởng, dân làng có câu nói: "Nếu làm được như thế, thì núi LangBiang cũng phải sụp lở". Vì vậy, khi thấy ngọn núi bị lở, nhiều người Lạch và Cil bàn tán cho rằng, núi Lang Biang sụp lở là do thần linh đang tỏ thái độ không vừa lòng với chế độ và hiện tượng này báo hiệu một điều gì bất thường sắp xảy ra.

4/ Sấm và điềm tiên đoán

a. Những câu Sấm và “Điềm” đã được công nhận là đúng.


* Sấm dự đoán chủ nghĩa CS tan rã

“Bao giờ đá nổi, lông chìm.
“Hồ khô, đồng cạn, búa liềm ra tro”.

Người dân cho là sấm này của cụ Trạng Trình, đoán về sự lien hệ tồn vong giữa chủ nghĩa CS và bốn nhân vật cao cấp Việt-Tàu: Tưởng, Mao, Hồ, Đồng. Tưởng Giới Thạch mất ngày 5 tháng 4 năm 1975, được chôn trên núi ở Đài Bắc (đá nổi). Mao chết ngày 9 /9/1976 (lông chìm). Hồ Chí Minh chết ngày 2/9/1969, xác bị ướp lộng kiếng (hồ khô). Phạm Văn Đồng chết ngày 29/4/2000 (đồng cạn). Lời sấm ký hiệu nghiệm, chủ nghĩa CS tan rã khắp nơi, còn lại 4 nước cố bám con đường “xã hội chủ nghĩa” là Tàu, Việt, Bắc Hàn và Cuba. Riêng Cuba chỉ là thứ CS nửa vời!

* Điềm suy tàn của nền “Đệ nhị Cộng Hòa”

Ở vùng quê Ninh Hải, tỉnh Phan Rang, có ngọn núi Đá Chồng. Trên núi có ba tảng đá lớn chồng lên nhau có hình thù rất dữ tợn, dân địa phương gọi là núi Mặt Quỷ. Cách núi Mặt Quỷ khoảng 1 cây số, ở chóp Bắc, có một tảng đá lớn hình tam giác nhọn, chiều ngang cỡ 6 m, cao 3m nhìn giống như con dao, nên được gọi là hòn Đá Dao. Dân chúng xứ này có câu nói “Mặt Quỷ kỵ Đá Dao” với ngụ ý, Đá Dao còn thì quỷ không thể xuất hiện.

Vào buổi chiều năm 1974, từ lưng chừng núi, ngọn Đá Dao bị sạt lở, lăn xuống chân núi... Và đến mùa xuân năm 1975, toàn vùng Văn Sơn, Bình Sơn, Khánh Hải, Ninh Chữ đột nhiên xảy ra một hiện tượng lạ chưa từng thấy. Hàng đàn sâu bọ, nhất là sâu róm màu vàng xuất hiện dầy đặc, tràn qua đường lộ và cầu Lăng Ông, tàn phá các loại hoa màu, ruộng lúa. Sâu bò đầy đường, đầy đất, nên nhiều gia đình phải di tản...

Dân miền Trung cho rằng, hiện tượng ngọn Đá Dao bị sạt lở và sâu vàng tràn ngập là “Điềm gở”, sau đó không lâu, chế độ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ vào ngày 30/4/1975.

* Sấm ký Vô Vi

Vào hai năm 1977-1978 tại vùng Thất Sơn, từ Tịnh Biên dài đến Vĩnh Gia, Vĩnh Điều, dân cư ngụ đều nghe hai câu Sấm của đạo Vô Vi ở núi Trà Sư, được phổ biến bởi các đồng nhi:

Chừng nào núi cấm đá rơi,
Là ngày ma quỷ hết thời quang vinh.

Đến khi núi Cấm bị sạt lở vào ngày 5 tháng 5 năm 2012, người viết mới nghiệm được nghĩa của hai câu này. Thì ra, chữ Cấm viết hoa và từ ngữ “quang vinh” là từ ngữ mà chế độ CS thường dùng, như khẩu hiệu “đảng CSVN quang vinh”.

Sau tháng 4 năm 1975, các ủy ban của CS mọc ra như nấm như ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố. Người đứng đầu được gọi là tỉnh ủy, thành ủy... người dân đọc chữ “ủy” thành ra “quỷ”. Quá đúng, sau tháng 5 năm 2012, phong trào đấu tranh chống Tàu cộng đã bộc phát mạnh với những diễn biến làm cho đảng CSVN phải hoảng sợ. Từ chỗ đàn áp điên cuồng những người yêu nước đến những những trò hề... và thói quen bịp bợm, lọc lừa xảo trá, cho thấy đảng CSVN đã hết thời quang vinh, đúng như câu Sấm ký.

b. Những câu tiên tri, Sấm và Điềm đang chờ được công nhận là đúng

* Lời tiên tri của cụ Diễn


Trước tháng Tư 1975, ở Sài Gòn có cụ Diễn, một nhà Dịch học tài giỏi, đã tiên tri chính xác nhiều chuyện quốc gia đại sự, đã đoán trước sự nghiệp và số phận của nhiều nhân vật quan trọng. Cụ Diễn tiết lộ, CS sẽ chiếm Miền Nam sau khi HCM chết và rồi chúng sẽ tan rã sau cái chết của Võ Nguyên Giáp. Hiện Võ Nguyên Giáp đã sống được 102 tuổi, mọi người đang chờ ngày ông ta “đi theo” Hồ Chí Minh để kiểm nghiệm lời tiên tri của cụ Diễn.

* Năm Tỵ trong Sấm Trạng Trình

Trước khi nói đến năm Tỵ, xin nhắc lại những câu Sấm Trạng Trình mà nhiều người suy ra thấy ăn khớp với tình hình Việt Nam từ năm 1975 trở đi, khi CS xâm chiếm miền Nam, xưng là "đỉnh cao trí tuệ", áp dụng chính sách độc tài toàn trị, chà đạp nhân quyền, áp bức tôn giáo. 

"...Ai còn khoe trí khoe năng,
Cấm kia bắt nọ hung hăng với người.
Chưa từng thấy nay đời sự lạ,
Chốc lai mòng gá vạ cho dân!
Muốn bình sao chẳng lấy nhân?
Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình?"

Lời bàn của Nhất Nguyên:

* Câu 1: Ai còn khoe trí khoe năng
CS luôn vỗ ngực cho mình là "đỉnh cao trí tuệ".

* Câu 2: Cấm kia bắt nọ hung hăng với người
CS cấm và bắt dân biểu tình chống Tàu cộng.

* Câu 3: Chưa từng thấy nay đời sự lạ
- Chiếm đoạt miền Nam mà gọi là giải phóng miền Nam.

- Nhà thương Từ Dũ đổi tên thành xưởng đẻ.
- Thay đổi tên nhiều con đường mang tên của những anh hùng dân tộc bằng những tên bị CS lợi dụng.

- Đặt tên quái thai "Kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa".

* Câu 4: Chốc lai mòng gá vạ cho dân! 

CS vu oan giá họa cho dân, bắt người yêu nước vì phạm vào hai điều trong bộ luật hình sự: điều 79 (âm mưu lật đổ chế độ) và điều 88 (tuyên truyền chống nhà nước). Điển hình là thủ đoạn dùng “bao cao su” giá họa cho LS Cù Huy Hà Vũ.

* Câu 5: Muốn bình sao chẳng lấy nhân?
CS giao đất đai, biển đảo cho Tàu cộng để đổi lấy an bình, không biết thu phục nhân tâm.

* Câu 6: Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình?
CS đàn áp tôn giáo, chiếm đoạt đất đai nhà cửa. Già trẻ yêu nước đều bị tống vô tù, làm cho người dân hiền lành ghê sợ chế độ.

Nói đến năm Tỵ, Sấm viết:

"Hùm gầm khắp nẻo gần xa,
Mèo kêu rợn tiếng, quỷ ma tơi bời.
Rồng bay năm vẻ sáng ngời,
Rắn qua sửa soạn hết đời Sa Tăng.
Ngựa lồng, quỷ mới nhăn răng,
Cha con dòng họ thầy tăng hết thời".

Lời bàn của Nhất Nguyên:

- Câu 7: Hùm gầm khắp nẻo gần xa 
Năm Canh Dần (2010), những con hổ Á Châu gầm thét do suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chánh khắp nơi trong khu vực, ảnh hưởng đến thế giới. Nhân đó, những tên CS có tiếng tăm ở Hà Nội đã lên tiếng đòi cải tổ chính trị làm cho đảng CS phải lo đối phó.

- Câu 8: Mèo kêu rợn tiếng, quỷ ma tơi bời
Rồi qua năm Tân Mão (2011), các cuộc đấu tranh của tôn giáo tại miền Nam và miền Trung, dân oan khiếu kiện, chống cưỡng chế đất đai, những cuộc biểu tình chống Trung Cộng xâm lăng... làm nhà cầm quyền Cộng sản đứng ngồi không yên.

- Câu 9: Rồng bay năm vẻ sáng ngời 
Năm Nhâm Thìn (2012), các phong trào đấu tranh trong nước của năm giới (sĩ, nông, công, thương, binh) bắt đầu nổi dậy. 

- Câu 10: Rắn qua sửa soạn hết đời Sa tăng
Qua năm Quý Tỵ (2013), nền kinh tế tiếp tục bị suy thoái, những cuộc đấu đá để tranh giành quyền lực ở Bắc Bộ Phủ là một điều mà mọi người tiên đoán là chế độ sắp tàn.

- Câu 11: Ngựa lồng quỷ mới nhăn răng
Đến năm Giáp Ngọ (2014), chế độ Cộng sản mới suy sụp.

- Câu 1: Cha con dòng họ thầy tăng hết thời.

Đến đây thì những tôn giáo quốc doanh do CS dàn dựng và chỉ đạo như Cao Đài quốc doanh, Hòa Hảo quốc doanh, Phật giáo quốc doanh, Công giáo quốc doanh... sẽ biến mất vì người dựng ra mình không còn tồn tại!

Nhận định

1. Chế độ CS sụp đổ vì mất văn hóa


Văn hóa là linh hồn của một dân tộc. Đối với nhân loại yếu tố tinh thần này cũng quan trọng ngang với yếu tố vật chất là giống nòi và đất đai. Lịch sử nền văn minh của một dân tộc là lịch sử của sự phát triển về văn hóa. Tự phá hủy nền văn hóa sẽ dẫn tới sự diệt vong của dân tộc đó. CSVN đã và đang phá hủy nền văn hóa của dân tộc Việt bằng cách:

- Bỏ môn học Công dân Giáo dục và Việt sử (anh hùng dân tộc).

- Đưa tiếng Tàu vào chương trình giáo dục.

- Phổ biến rộng rãi văn hóa Tàu trên khắp các tỉnh thành.  

- Tiếp tay cho hàng hóa Trung Quốc lũng đoạn thị trường kinh tế VN.

- Làm ngơ trước sự hiện hiện của vài trăm ngàn người Tàu đang sống bất hợp pháp tại VN.

Vì vậy, nền văn hóa Việt ngày càng suy đồi, đưa đến tệ nạn mất đạo đức.

Trước đây, cụ Lê Quí Đôn cho rằng có 5 nguy cơ làm hỏng đất nước, làm hỏng cả xã hội, đó là: “Trẻ không kính già, trò không trọng thầy, binh kiêu tướng thoái, tham nhũng tràn lan, sĩ phu ngoảnh mặt".

Xã hội Việt Nam hiện nay có đủ cả 5 nguy cơ này. Và hơn nữa, tình trạng đàn áp dân chúng ngày càng gia tăng, tuổi trẻ yêu nước chống Tàu cộng bị tống vào tù, tuổi già trung với nước tham gia biểu tình cũng bị bắt giam và đày ải. Đây là triệu chứng suy tàn và là “Điềm” báo trước sự sụp đổ của chế độ mất văn hóa.

2. Chế độ CS sụp đổ vì tàn ác

Sấm Trạng Trình Toàn tập (Nguyễn Thiên Thụ), phần XXV, trang 65 có ghi:

“Đồng giao đã có câu rằng,
57. Non xanh mà mọc trắng răng mấy kỳ.
Bấy giờ quét sạch thử ly,
Xin ai nhớ lấy sấm ghi kẻo lầm.
Đương khi sấm chớp ầm ầm,
Chẳng qua khó số để găm trị bình,
Thất phu dám chống thư sinh,
Sông ô chấp cả mấy anh thuỷ hoàng.
Nực cười những lũ bàng quan,
59. Cờ tàn lại muốn toan đường đấm xe.
Thôi thôi mặc lũ thằng hề,
Gió mây ta lại đi về gió mây”.

Lời bàn:


- Non xanh mà mọc trắng răng mấy kỳ
Ngụ ý nói, khi nhiều ngọn núi xanh bị sạt lở.

- Bấy giờ quét sạch thử ly
Thử ly là hồ ly, loài chồn cáo. Y nói đảng của Hồ Chí Minh. Ngụ ý cho biết, đã đến lúc người dân nổi dậy giải thể chế độ CS.

- Thất phu giám chống thư sinh
Thất phu là côn đồ. Thư sinh là học sinh, sinh viên. Công an cho côn đồ hành hung tuổi trẻ yêu nước.

- Sông ô chấp cả mấy anh thuỷ hoàng
Dù là nhóm nhỏ, đấu tranh ô hợp thiếu tổ chức, nhưng vẫn hiên ngang trước bạo lực. Thủy hoàng là Tần Thủy Hoàng.

- Nực cười những lũ bàng quan
Cán bộ cao cấp biết rõ sự việc đàn áp dã man của cấp dưới nhưng không hề lên tiếng, chỉ cần tham nhũng kiếm thêm tiền là tốt.

- Cờ tàn lại muốn toan đường đấm xe
Biết chế độ sắp sụp đổ, nhưng muốn đàn áp phong trào đấu tranh.

- Thôi thôi mặc lũ thằng hề
- Gió mây ta lại đi về gió mây

Hai câu này có hàm ý nói, việc mưu hại những người yêu nước như trò hề, đường ta ta cứ đi, tiếp tục đấu tranh thì chế độ CS sẽ sụp đổ.  

3. Chế độ CS sụp đổ do thiên định.

*Một đoạn cơ bút của bà chúa Liễu Hạnh tiên tri về vận nước Việt Nam (1938)

“Khỉ về Gà gáy oa oa,
Khắp nơi lại dấy can qua kinh trời. 
Quỷ Ma đến lúc đi đời,
Phụ Nguyên Trời đã định ngôi sẵn sàng.
Chó mừng tân chủ rõ ràng,
Bốn phương tấp nập lên đàng hồi hương”.

 Lời bàn:

Hai câu đầu nói, sẽ có chiến tranh trong 2 năm Bính Thân (2016) và Đinh Dậu (2017).

Hai câu kế tiếp cho biết, CS (Quỷ ma là CS) sụp đổ do trời đã định sẵn.

Hai câu chót báo, năm Mậu Tuất (2018) nước Việt sẽ có vị nguyên thủ tài đức xuất hiện và nhiều người Việt hải ngoại sẽ trở về quê hương xứ sở.

* Câu Sấm miền Trung

Cùng thời với núi Đá Dao sụp lở, hai câu thơ đã xuất hiện từ miền Trung:

Bao giờ ngọn núi Lâm Viên,
Tách đôi hai miếng là điềm cộng tan.

Lời bàn:

Thời gian qua, có ai nghĩ đến núi Lâm Viên tách đôi? Và chữ cộng, mọi người đều tưởng là dấu cộng, tách ra hai miếng thì đâu còn là cộng. Có ai biết chữ cộng viết hoa là Cộng sản?

Vì vậy, hiện tượng núi Lang Biang sạt lở (đường lở như tách ngọn núi làm đôi) cùng với vụ sạt lở núi ở tỉnh Điện Biên (nơi CS thắng Pháp) và các vụ sạt lở núi tại Nghệ An (quê của Hồ Chí Minh) đều là “Điềm gở” báo hiệu sự suy tàn của chế độ.

* Sạt đình Lại Đà

Mưa to trút xuống trong tháng 4 vừa qua, làm sạt hẳn tường đình làng Lại Đà (cách Hà Nội 28 km về hướng Tây Bắc), nơi nổi tiếng xuất thân nhiều khoa bảng và là quê của Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư đảng CSVN. Theo sử sách thì việc sạt đình hay sạt tường đình chưa bao giờ được xem là điềm lành, mà đó chỉ là điềm gở, báo hiệu quyền lực bị suy sụp.

4. Đảng CS sụp đổ do vận nước.

Theo Tam Nguyên Cửu Vận thì Đảng Cộng Sản VN cướp chính quyền vào năm 1945, nằm trong vận 5 (1944-1963) thuộc hành Thổ. Đến nay là vận 8 (2004-2023) cũng thuộc hành Thổ (đang thịnh) thì hành Thổ của vận 5 đã hết “vận khí” nên suy sụp. Do hết “vận khí” nên đảng Cộng Sản sắp sửa bị sụp đổ, vì vậy nhà cầm quyền CSVN bị dân chúng chống đối vì bán đất, dâng biển đảo cho Tàu cộng, cướp đất đai và đàn áp dân lành. Nền kinh tế ngày càng suy thoái, lụn bại. Tệ nạn tham nhũng và cướp bóc xảy ra khắp nơi. Nên người viết nhận định, ngày tàn của đảng Cộng Sản Việt Nam không còn bao lâu nữa, chỉ sớm hay muộn trong khoảng từ năm Giáp Ngọ (2014) đến năm Đinh Dậu (2017) mà thôi.

5/ Điềm xấu đang xuất hiện tràn lan trên đất nước

         image 
Lời nói đầu: Sau khi tướng Võ Nguyên Giáp qua đời và khi Tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng phát biểu khẳng định Chủ nghĩa Xã hội chỉ là hoang tưởng… Vô Chiêu nhận được nhiều email của quý độc giả đã đọc bài “Núi Lang Biang sạt lở, điềm suy tàn của chế độ” đặt câu hỏi khi nào đảng Cộng sản tan rã. Bài viết thô thiển này xin được trả lời câu hỏi đó và mong được quý độc giả góp ý.

* * *

Trong những năm gần đây, người dân trong nước bắt đầu tin vào những gì vô hình như là vận nước, định mệnh, số phận, điềm lành, điềm gở… khi nhìn thấy những sự việc bất ngờ xảy ra, hoặc xảy ra nhãn tiền theo luật nhân quả hoặc xảy ra theo những hiện tượng lạ báo trước mà không phải là biện chứng khoa học.


Theo tài liệu về văn hóa Trung Hoa cổ đại, thì thiên thạch va chạm vào địa cầu là một điềm báo, vua đã hành xử sai trái trong việc cai trị dân, hoặc là sẽ có chết chóc của các nhân vật quan trọng hay thiên tai xảy ra làm chết nhiều người hoặc có sự bất ổn chính trị, thay đổi chế độ.


- Ngày thứ Năm 1/8/2013, lúc 2 giờ sáng, một thiên thạch rơi xuống một ngôi làng thuộc tỉnh Tân Cương (Xinjiang) đã để lại một lỗ sâu hơn 3 thước dưới mặt đất. Các công dân mạng cho rằng, hiện tượng này là một “dấu hiệu cảnh báo từ trên trời” và là điềm gở. Sẽ có nhiều sự kiện quan trọng gây bất lợi cho Hoa Lục từ Tân Cương xảy ra trong năm nay.


Quả đúng như dự đoán, ngày 28/10/2013 vừa qua, một vụ khủng bố bằng xe thể thao tại quảng trường Thiên An Môn ở thủ đô Bắc Kinh. Cảnh sát cho biết, nhóm khủng bố Hồi giáo Tân Cương đã sử dụng chiếc xe loại SUV lao nhanh suốt 500 thước dọc theo lối đi dành cho khách bộ hành bên ngoài quảng trường, cán hàng chục khách du lịch trước khi nổ và bốc cháy làm thiệt mạng 5 người và 40 người bị thương. Sau vụ này, đảng CS Trung Quốc giải nhiệm tướng Bành Dũng (Peng Yong), tư lệnh vùng Tân Cương và cách chức ủy viên thường trực đảng bộ của tướng này.


Trong quá khứ, nước Tàu đã có nhiều biến cố lớn xảy ra sau những trận sao băng.

-Ngày 8/3/1976, ba tảng thiên thạch lớn và hơn 3.000 thiên thạch nhỏ rơi xuống tỉnh Cát Lâm, (lớn nhất kể từ khi Đảng CS Trung Hoa nắm quyền). Trong năm đó, ba nhà lãnh đạo tối cao của Đảng là Mao Trạch Đông (Mao Zedong), Chu Đức (Zhu De) và Chu Ân Lai (Zhou Enlai) đều qua đời. Kế đến, ngày 28/7/1976, xảy ra trận động đất kinh hoàng ở tỉnh Hà Bắc (Hebei) cướp đi hơn 240 ngàn sinh mạng.

- Đầu năm 1997, sau cơn sao băng, một tảng thiên thạch lớn rơi xuống tỉnh Sơn Đông, 4 ngày sau, lãnh đạo tối cao của Đảng là Đặng Tiểu Bình chết lúc 9 giờ tối thứ Tư ngày 19/2/1997.


- Trận sao băng (lớn thứ nhì) xảy ra ngày 11/2/2012, với nhiều thiên thạch rơi xuống tỉnh Thanh Hải, sau đó biến cố Vương Lập Quân và vụ bê bối của Bạc Hy Lai diễn ra, phơi bày cho công chúng biết những vụ đấu đá khốc liệt giữa các phe phái trong nội bộ đảng CS. Bạc Lai Hy lãnh án tù chung thân và vợ bị án tử hình.


- Ngày 1/11/2013, vụ nổ kho thuốc súng xảy ra vào khoảng 4 giờ chiều tại thị trấn Tam Bảo, thành phố Sầm Tây, Quảng Tây. Nhà cầm quyền cho biết 11 người tử vong sau những nỗ lực cấp cứu bất thành, hàng chục người khác đang được điều trị trong bệnh viện.


Trong bài viết “Núi Lang Biang sạt lở, điềm suy tàn của chế độ” đăng trên trang mạng “Dân Làm Báo” ngày 4/9/2013, Vô Chiêu có nhắc đến lời tiên tri của cụ Diễn như sau:


“Trước tháng Tư 1975, ở Sài Gòn có cụ Diễn, một nhà Dịch học tài giỏi, đã tiên tri chính xác nhiều chuyện quốc gia đại sự, đã đoán trước sự nghiệp và số phận của nhiều nhân vật quan trọng. Cụ Diễn tiết lộ, CS sẽ chiếm Miền Nam sau khi Hồ Chí Minh chết và rồi chúng sẽ tan rã sau cái chết của Võ Nguyên Giáp”.


Vừa qua, tướng Võ Nguyên Giáp từ trần lúc 6 giờ 9 phút chiều ngày 4/10/2013, hưởng thọ 103 tuổi. Sau đó, trong nước xảy ra nhiều vụ sạt lở núi, núi bị nứt, động đất, đá và kim loại từ trên không rơi xuống, đồng thời có nhiều hiện tượng lạ xuất hiện.


- Một tuần sau khi ông Giáp mất, ngày 12/10/2013, lúc 7 giờ sáng, một vụ nổ lớn đã xảy ra tại kho thuốc súng của nhà máy Z121, xã Khải Xuân, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, 24 người chết và 97 người bị thương.


     
                
     
             Hình núi nứt tại Nghệ An

   - Trung tuần tháng 10 vừa qua, những người dân sống dưới chân núi Rú Dầu, thôn Thượng Tiến, xã Đức Lạc (Đức Thọ) hết sức hoang mang khi tự nhiên núi xuất hiện những đường nứt lớn và dài. Phóng viên Dân trí tận mắt chứng kiến nhiều vết nứt lớn kéo dài trên núi cho biết, có ít nhất 6 vết nứt, mỗi vết nứt kéo dài vài chục đến vài trăm thước, sâu hơn 1 thước. Có nhiều đoạn vết nứt sâu hơn 2 thước, dài khoảng 600 thước.

- Tối ngày 16/10/2013, một nhóm người dân dọn thực bì để trồng keo tại huyện Hiệp Đức, Quảng Nam. Khi đang ngồi nghỉ dưới chân núi thì bất ngờ một mảng núi sạt lở, đổ xuống làm 2 người chết và 1 người bị thương.


- Ngày 6/10/2013, hiện tượng sụt lún đất, nứt đất tại thôn Gia Bắc. Ông Lê Viết Phú, phó chủ tịch UBND huyện Di Linh cho biết, các xã Lộc Châu 2 và 3 (Tân Nghĩa) cũng bị sụt lún, nứt đất. Đến nay, có 27 căn nhà bị nứt và lún, trong đó có 4 căn bị sập hoàn toàn. Diện tích canh tác cà phê, rau màu bị ảnh hưởng do sụt lún khoảng 50 hecta.


- Ngày 25/10/2013, khoảng 12 giờ trưa tại xã Thuận Quý, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, thình lình một tiếng nổ lớn xảy ra trên không, gây sự chú ý của cư dân một vùng rộng lớn. Sau đó, nhiều mảnh kim loại từ trên trời rơi xuống, có nơi làm thủng nóc nhà dân và còn đánh gãy luôn một trụ điện công cộng. Báo Thanh Niên dẫn lời ông Trưởng công an xã Thuận Quý xác nhận, tìm được một miếng kim loại dài 1 thước rưởi, rộng 7 tấc, nặng đến 17 ký.


- Hôm 26/10/2013, cũng một tiếng nổ lớn tạo thành một hố sâu, lửa khói "phựt" lên cao hơn một thước làm nhiều người hốt hoảng. Đây là hiện tượng chưa từng có, xảy ra trước nhà số 236 đường Bình Lợi, thuộc quận Bình Thạnh, Sài Gòn.


- Chiều ngày 27 tháng 10, một cột nước phun trào lên cao chừng 2 tấc, nhưng có đường kính rộng gần 4 thước xuất hiện trên sông Tiền Thành, đoạn qua thôn Vân Quật Thượng, thuộc thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (Huế). Ông Đặng Sôn cho biết, ông thấy một con Trạch khổng lồ, nổi lên cách đây mấy ngày trước với cái lưng rất to. Còn cô Trương Thị Trúc Linh sinh sống ở đây kể, “Tôi vừa thấy con vật này vài phút trước, nó rất to, thấy luôn cái lưng. Nhưng chỉ một lúc rồi nó lặn xuống”.


Theo báo Thanh Niên, hiện tượng này xuất hiện suốt 4 ngày tại đoạn sông Tiền Thành dưới cầu Vân Quật Thượng, tin đồn lan nhanh, người dân hiếu kỳ kéo đến ngày một đông. Hàng ngàn người dân tụ về quan sát "hiện tượng lạ" làm giao thông tắc nghẽn. Mọi người bàn tán xôn xao, một số cho là hiện tượng "núi lửa sắp hoạt động". Một số khác tin đây là điềm lành, nhưng các bô lão trong vùng bác bỏ lập luận núi lửa sắp hoạt động hoặc điềm lành và họ kể lại rằng: “khúc sông này có một con Trạch thần, khi xuất hiện làm nước sông dậy sóng, mỗi lần xuất hiện thì không bao lâu sẽ thay đổi chế độ. Lần đầu xuất hiện vào năm Quý Tỵ (1953), lần thứ hai vào năm Giáp Dần (1974) và lần này là lần thứ ba”.


Trước khi tướng Võ Nguyên Giáp qua đời cũng đã xảy ra nhiều vụ sạt lở núi, đá núi rơi và động đất.


- Ngày 3/9/2013, một trận động đất xảy ra tại khu vực Sông Tranh, huyện Bắc Trà My, Quảng Nam làm cho cư dân trong vùng lo sợ.


- Tháng 9/2013, một tảng đá khoảng hơn một tấn bất ngờ rơi từ độ cao gần 250 thước xuống đường lên núi Cấm (An Giang), khiến chính quyền phải phong tỏa đường lên khu du lịch nổi tiếng này để tránh nguy cơ đá đè chết người làm cho giao thông tắc nghẽn.


         image
               Hình  đá núi rơi tại Nghệ An

   -Vào rạng sáng ngày 11/9/2013, tại chân núi Rồng, thuộc xóm Rồng, xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc (Nghệ An) đã xảy ra một vụ sạt lở núi đá kinh hoàng. Ba hòn đá ước lượng nặng khoảng gần 50 tấn đã lăn xuống làm sập và hư hỏng 3 căn nhà. 

Hôm 25/2/2013, tại Vĩnh Phúc, Phú Thọ (vùng đất thiêng có đền thờ Quốc Tổ), Nguyễn Phú Trọng đã “lỡ mồm” lên án những ai đòi thay đổi điều 4 Hiến pháp là “suy thoái tư tưởng, đạo đức” bị nhà báo Nguyễn Đắc Kiên viết bài cho rằng ông Trọng“không có tư cách” để nói như vậy với nhân dân Việt Nam.


Cũng trong bài viết “Núi Lang Biang sạt lở, điềm suy tàn của chế độ”, Vô Chiêu cũng có nói đến vụ sạt tường đình Lại Đà là điềm gở, sẽ gây hệ lụy cho ông Nguyễn Phú Trọng, nguyên văn như sau: “Mưa to trút xuống trong tháng 4 vừa qua, làm sạt hẳn tường đình làng Lại Đà (cách Hà Nội 28 km về hướng Tây Bắc), nơi nổi tiếng xuất thân nhiều khoa bảng và là quê của Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư đảng CSVN. Theo sử sách thì việc sạt đình hay sạt tường đình chưa bao giờ được xem là điềm lành, mà đó chỉ là điềm gở, báo hiệu quyền lực của ông Trọng bị suy sụp”.


Mới đây, Báo Thanh Niên số ra ngày 24/10/2013 cho biết, trong phiên thảo luận tại tổ về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu: "Đến hết thế kỷ này không biết đã có Chủ Nghĩa Xã Hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa". Đây là một câu nói trái ngược hẳn với đường lối và những định hướng của đảng Cộng sản từ trước đến nay. Bằng câu nói này, ông Trọng đã chính thức khai tử cái gọi là Chủ nghĩa Xã hội ở Việt Nam. Nói cách khác ông Trọng đã thú nhận là dân tộc Việt Nam đã hoàn toàn bị lừa dối bởi đảng của ông từ trước đến nay. Ông đã thú nhận tội lỗi của ông và đảng Cộng sản Việt Nam trong nhiều năm qua khi phát biểu khẳng định chủ nghĩa xã hội chỉ là hoang tưởng.


Nếu chiếu theo luật lệ của nhà cầm quyền Cộng sản đề ra, thì ông Trọng sẽ phải bị truy tố theo khoản b, mục 1, điều 88 của Bộ luật Hình sự về tội Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: “Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân”.


         image  
                       Hình núi Nghệ An sạt lở

  Ông Trọng sẽ không bao giờ bị truy tố về tội tuyên truyền chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa vì không một ai trong đảng dám đặt vấn đề này và hơn nữa, chưa có một tiền lệ nào truy tố quan chức lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam. Nhưng tiếng nói của ông Trọng sẽ không còn giá trị trong đảng và chiếc ghế Tổng bí thư của ông sẽ có người khác ngồi trong kỳ tới.

Theo bản nghiên cứu của Viện Nghiên Cứu Dư Luận Xã hội (tài liệu chính thức nghiên cứu theo yêu cầu của Bộ Chính Trị CSVN), trong đó nói rõ ràng: Đảng viên bây giờ đều chán nản và bi quan, không còn tin vào đường lối chủ nghĩa Cộng sản và học thuyết Mác Lê nữa vì học thuyết Mác Lê đã lỗi thời và đảng Cộng sản đang đi vào ngõ cụt.


Trong bài “Tang lễ Võ Nguyên Giáp, một trường hợp nghiên cứu về tẩy não”. Trần Trung Đạo viết: “Lý do chính làm tan vỡ các chế độ CS châu Âu phát xuất từ chỗ nhân dân các nước Đông Âu và Liên Xô đã vượt qua được căn bịnh tẩy não. Các chính sách tuyên truyền tẩy não từ thời Lenin, Stalin đã không còn hiệu quả, không thuyết phục và cũng không làm người dân sợ hãi, không còn ai kể cả các lãnh đạo đảng tin tưởng vào chủ nghĩa Cộng Sản. Một khi chính sách tuyên truyền không tác dụng, chế độ độc tài sẽ sụp đổ.Sau hơn 70 năm đối kháng trong âm thầm nhẫn nhục giữa lừa dối và chân thành, giữa bạo lực trấn áp và khát vọng tự do, giữa độc tài và dân chủ, giữa cổ võ chiến tranh và yêu chuộng hòa bình, giữa hận thù và tình yêu, cuối cùng, sự thật đã thắng tại châu Âu và sẽ thắng ở Việt Nam. George Orwell đã viết “trong xã hội đầy lừa dối, cất lên một tiếng nói thật là một hành động cách mạng”, hơn bao giờ hết, Việt Nam đang cần những con người làm cách mạng bằng cách sống thật và nói thật”.


Hiện nay, nhiều sự việc nghiêm trọng đã xảy ra gây bất lợi cho nhà cầm quyền CSVN do những con người chẳng những “sống thật”, “nói thật”, mà còn “làm thật” nữa như:


-Cao trào nông dân chống cường quyền “cưỡng chế” đất đai đã lên đến tột đỉnh, điển hình qua vụ cưỡng chế đất đai của gia đình Đoàn Văn Vươn và Đặng Ngọc Viết.


- Cao trào tuổi trẻ yêu nước đang phát triển mọi nơi.


-  Cao trào công nhân tranh đấu đòi công bằng đang tiếp tục.


- Cao trào đòi hỏi nhân quyền đang được thế giới quan tâm.


- Cao trào bảo vệ tôn giáo chống Cộng sản đàn áp thô bạo. Mỹ Yên kế tục truyền thống đấu tranh bất khuất vì công lý và hòa bình của người dân Thanh-Nghệ-Tĩnh.


                       .
       .
                            
                                 Bộ Chính Trị TW. ĐCSVN Một Bộ Phận Không Nhỏ Việt Gian 

Năm 1945 đến nay là khoảng thời gian được xem là vận mệnh bi thảm nhất của dân tộc Việt trong suốt gần 5000 năm lịch sử. Muốn thoát khỏi vận mệnh bi thảm nầy, người Việt cần phải dẹp bỏ chủ nghĩa và chế độ Cộng sản. Muốn giải thể chế độ, trước nhất phải động viên tinh thần dân tộc. Tinh thần dân tộc càng mạnh thì càng có khả năng cô lập nội thù và chống ngoại xâm. Hai mặt này cùng hỗ trợ nhau, nhịp nhàng tiến hóa thì Tổ quốc Việt Nam mới có cơ trường tồn.

                    

  Theo lời tiên đoán của cụ Diễn và những sự việc cùng hiện tượng xảy ra một tháng trước và sau khi tướng Võ Nguyên Giáp qua đời, thì người viết tin rằng: “Sự sụp đổ của chế độ và đảng Cộng sản tan rã là điều hẳn nhiên, chắc chắn không thể tránh khỏi, mà điều này không tùy thuộc vào đảng hay nhà cầm quyền nữa, mà tùy thuộc vào lực lượng nhân dân đứng lên hành động lúc nào thì lúc đó sẽ có thay đổi lúc đó. Hồn thiêng Sông núi đang phù trợ cho vận mệnh của đất nước Việt Nam…”./.

    Vô Chiêu_DLB

          ( Trong Bảo Mai Blog )

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2013

Tìm Hiểu Sự Khác Biệt Giữa Trầm Hương & Kỳ Nam

 Tìm Hiểu Sự Khác Biệt Giữa Trầm Hương & Kỳ Nam



Thời gian gần đây, báo chí liên tục phản ánh giới “đi điệu” trúng đậm trầm, kỳ. Chuyện trúng quả trầm, kỳ diễn ra nhiều nhất ở các tỉnh Khánh Hòa, Quảng Ngãi, Phú Yên, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum, đặc biệt là Quảng Nam. Các xã như Đại Phong (huyện Đại Lộc), Đại Nghĩa (Mỹ Lộc, Quảng Nam) liên tục khiến cả nước bị sốc vì những tin đồn trúng 10 tỷ, 50 tỷ, 100 tỷ và gần đây nhất là 1.000 tỷ đồng!
imageGS. Đinh Xuân Bá và một khối kỳ nam khổng lồ.
Kỳ nam là thứ siêu đắt, là sản vật có thể nói là vô giá của rừng già, nhưng vì sao kỳ nam lại đắt như vậy, người ta mua để làm gì, và sự thực có phải nhóm người đi tìm trầm trúng cả ngàn tỷ hay không là những câu hỏi rất cần có sự giải đáp.
Kỳ 1: “Giáo sư trầm, kỳ” Người hiểu biết nhất về trầm hương, kỳ nam ở nước ta có lẽ là GS-TS. Đinh Xuân Bá (nguyên giảng viên ĐH Bách Khoa Hà Nội, nguyên Chủ tịch HĐQT Cty SECOIN). Giới nghiên cứu về trầm hương, kỳ nam thường gọi ông là “giáo sư trầm, kỳ”. GS-TS. Đinh Xuân Bá đã nghỉ hưu mấy năm nay, ông không còn tham gia hoạt động giảng dạy và kinh doanh nữa. Mọi việc của doanh nghiệp ông giao cho con trai và con gái. Tuy nhiên, ông vẫn duy trì hoạt động của Trung tâm Sinh học ứng dụng SECOIN, mà ông là giám đốc. Trung tâm này quy tụ rất nhiều nhà khoa học có tiếng ở Việt Nam và trụ sở đặt tại nhà riêng của ông.
image
GS-TS. Đinh Xuân Bá bên một cây dó lớn.
Tòa biệt thự giữa khu vườn mênh mông ở làng Báo Đáp (Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội) là nơi nhà khoa học đã ngoài 70 tuổi này trồng đủ các loại cây cỏ, thậm chí nuôi cả… giun quế để nghiên cứu. Tòa nhà và khu vườn nằm trên mỏm đất ngã ba sông, trồi hẳn ra con sông Bắc Hưng Hải. Quanh nhà, ông trồng một số cây dó và thường xuyên đo đạc, theo dõi, nghiên cứu.
image
Gian hàng giới thiệu trầm, kỳ của Việt Nam ở hội chợ nước ngoài.
Tuy nhiên, mấy cây dó trồng quanh nhà là để cho vui, để người đến nhà ông chơi, các nhà khoa học không có điều kiện vào miền Trung được biết nó thế nào, chứ nơi ông nghiên cứu về trầm kỳ, về cây dó bầu nhiều năm nay là ở Hương Sơn (Hà Tĩnh). Tại đây, ông có một trang trại khổng lồ, rộng cả trăm ha với hàng vạn cây dó bầu đã chục năm tuổi.
image
GS. Đinh Xuân Bá trong một hội thảo về trầm, kỳ ở nước ngoài.
Từ khi cả nước còn mù mờ về cây dó, trầm, kỳ, thì ông đã bắt đầu gieo giống, trồng trọt và cung cấp giống cho người dân phát triển loài cây này. Từ loài cây quý hiếm, có mặt trong Sách đỏ Việt Nam, giờ có lẽ Sách đỏ nên loại cây này ra, vì khắp miền Trung người dân trồng nó, với số lượng lên đến vài chục triệu cây. Với tình trạng phát triển cây dó bầu như hiện tại, trong tương lai, Việt Nam sẽ thành vương quốc của dó bầu, của trầm, kỳ. Thế nhưng, vị GS này lại đưa ra một cảnh báo quan trọng, rằng trong tương lai, Việt Nam có thể dùng cây dó bầu để… đun bếp. Bởi vì, nếu để tự nhiên, thì cả ngàn cây mới có một cây cho trầm, hàng triệu cây mới có một cây cho kỳ nam và thời gian tạo trầm, kỳ kéo dài vài chục đến cả trăm năm, chứ không phải chuyện trồng cây rồi hái quả như sung, như vải.
image
Cây dó gần 100 năm tuổi ở Quảng Nam.
Các nhà khoa học ở Thái Lan, Malaisia, Ấn Độ và cả Việt Nam đã thử nghiệm đưa khoa học hiện đại vào việc tạo trầm. Họ khoan thân cây, cấy vi sinh vào vết thương, rồi kết hợp nhiều công đoạn nữa để tạo trầm. Thậm chí, các nhà khoa học Nhật Bản tại Đại học Kyoto đã dùng Methyl Jasmonate và Jasmonic acid (chất giúp tăng cường năng lực tự vệ của cây) tác động lên các tế bào của cây dó theo phương pháp nuôi cấy treo có thể tạo ra các chất chính của trầm hương chỉ trong vòng… 7 ngày.  Ông Bá gọi đây là phương pháp “kích cảm”. Việc tạo trầm bằng phương pháp này đã có hiệu quả, song chưa có kiểm chứng về chất lượng của trầm. Theo GS. Đinh Xuân Bá, nhiều khả năng, việc tạo trầm bằng phương pháp khoa học này sẽ chỉ cho ra đời một loại trầm dùng để làm… nhang.
image
Trầm hương Thái Lan bán rẻ như... củi.
GS. Đinh Xuân Bá đã trao đổi với rất nhiều nhà khoa học, trung tâm nghiên cứu, doanh nghiệp thu mua, chế biến trầm của nước ngoài và họ đều tuyên bố sẽ không thu mua trầm nhân tạo. Sản phẩm trầm hương nhân tạo chưa biết có hiệu quả không, chất lượng ra sao, mà có thể còn không bán được. Nếu không xác định được thị trường tiêu thụ mà cứ phát triển ồ ạt giống cây dó bầu sẽ là đại họa với người nông dân.   GS. Đinh Xuân Bá đã hoàn thành hàng loạt đề tài khoa học cấp Nhà nước về trầm, kỳ. Số lượng bài viết mang tính chất nghiên cứu khoa học thì có đến cả trăm.
image
Sản phẩm vòng đeo tay làm từ trầm hương.
Ông lên phòng làm việc ôm xuống một đống tài liệu cho tôi ngồi đọc để hiểu về trầm, kỳ. Cầm đống tài liệu mà theo ông là rất quan trọng, tôi chỉ có nước… bó tay. Bởi vì, tất cả các tài liệu, các công trình nghiên cứu đều được ông viết bằng tiếng Anh. Tôi hỏi có tài liệu nào bằng tiếng Việt không thì ông bảo không có. GS. Đinh Xuân Bá là người đầu tiên lập trang web giới thiệu về trầm, kỳ, các nghiên cứu, sáng chế, công nghệ chiết xuất tinh dầu từ khi Việt Nam chưa có internet. Trang web này ông lập ở nước ngoài, viết cho người nước ngoài đọc, nên phải viết bằng tiếng Anh.
image
Kỳ nam - thứ vàng ròng của rừng già.
Vì thế, nên dù là nhà nghiên cứu hàng đầu về lĩnh vực trầm, kỳ, song ở Việt Nam ít người biết đến ông, trừ giới buôn bán, tìm hiểu sâu về trầm, kỳ. Nhưng với giới nghiên cứu ở nước ngoài thì GS. Đinh Xuân Bá rất nổi tiếng. Mỗi năm ông ra nước ngoài cả chục lần để tham dự các hội thảo, các buổi giảng dạy về trầm, kỳ. Các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp, cơ sở chế biến trầm ở Thái Lan, Malaisia, Ấn Độ thường xuyên mời ông với tư cách nhà khoa học cấp cao. Chính vì vậy, không thể phủ nhận tài năng của GS. Đinh Xuân Bá trong lĩnh vực đầy sự kỳ bí, khó hiểu này. Theo GS. Đinh Xuân Bá, có rất nhiều loài thuộc chi Aquilaria, nhưng chỉ có 28 loài có thể cho trầm. 28 loài này có mặt ở 15 nước trên thế giới. Việt Nam chỉ có 6 loài thuộc chi Aquilaria. Aquilaria Crassna là loài quý nhất trong nhóm, chỉ có mặt ở 4 nước, trong đó Việt Nam có nhiều nhất và cho chất lượng cao nhất. Sở dĩ loài Crassna quý nhất là vì nó sản sinh ra trầm tốt, mà người đời vẫn gọi bằng cái tên khác là kỳ nam. Nhắc đến kỳ nam, chỉ có thể nhắc đến Việt Nam. Không có nước nào cho loại kỳ nam tốt hơn Việt Nam. Vì thế, kỳ nam có nguồn gốc từ Việt Nam luôn đắt nhất. Vậy kỳ nam của Việt Nam là thứ gì?

Sự bí ẩn của kỳ nam: Đau thương dó biến thành trầm
Theo lời đồn thì một kg kỳ nam, chỉ là gỗ và tinh dầu mà có giá tới 9 tỷ đồng, đắt hơn cả vàng ròng. Vậy kỳ nam là thứ gì và dùng để làm gì mà đắt khủng khiếp như vậy?
image
Cây gió bầu trên trăm năm tuổi ở Tiên Phước, Quảng Nam.
Kỳ 2: Đứng bên cây dó bầu trồng trước nhà, GS-TS Đinh Xuân Bá nói câu rất hình ảnh: “Trong đau thương dó biến thành trầm”. Sự hình thành của trầm, kỳ khiến con người suy tư về lẽ sinh tồn.  Theo dân gian, cách tạo trầm, kỳ của cây dó rất đặc biệt. Theo đó, hương trời theo gió quấn quýt thân cây dó bầu. Thứ hương trời đó cứ ngấm dần vào da, ăn dần vào thịt cây. Trầm, kỳ chính là thứ hương trời thấm đẫm trong lõi cây gió.
image
GS. Đinh Xuân Bá và công nhân trong trang trại dó bầu của ông ở Hà Tĩnh.
Chuyện khác kể rằng, do thân cây dó bị bọng, loài ong, kiến làm tổ ở đó, tha mật về ăn. Hương mật ngấm vào thịt cây dó lâu ngày rồi hòa trộn với nhựa cây mà kết thành trầm hương, kỳ nam. Đấy là chuyện kể của dân gian, còn khoa học đã lý giải cặn kẽ quá trình tạo trầm. Trầm hương và kỳ nam là sản phẩm đặc biệt nằm trong lõi của cây dó bầu. Nhưng không phải cây nào cũng cho trầm. Cả ngàn cây mới có một cây cho trầm, cả triệu cây mới có cây cho kỳ. Những cây cho trầm, kỳ thường là những cây bị thương tích. Khi cơ thể cây dó bị thương, cây sẽ tiết ra nhựa để bảo vệ vết thương, và thứ nhựa đó là trầm, kỳ. Việc cây dó tạo trầm như thế nào vẫn là điều bí hiểm, đã có cả trăm lý giải, song chưa lý giải nào hoàn thiện. Tuy nhiên, theo GS. Đinh Xuân Bá, qua nghiên cứu tài liệu từ các nhà khoa học đầu ngành về trầm, kỳ ở nước ngoài thì nhiều khả năng trầm là một bệnh phẩm hay sản phẩm của sự nhiễm bệnh. Nói cách khác, nó là sản phẩm của phản ứng tự vệ của cây chống lại sự nhiễm bệnh.  Nếu chỉ giải thích như vậy thì cây dó bầu nào cũng có thể cho trầm, kỳ nếu cây bị thương tích. Mà để cây bị thương tích, là chuyện rất đơn giản. Một người khua dao múa kiếm trong một ngày có thể khiến cả ngàn cây dó thương tích đầy mình.
image
Vết thương trên những cây dó bầu có thể tạo trầm.
Ngoài vết thương, thì sự hình thành trầm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: loài cây dó, thổ nhưỡng và thảm thực vật nơi cây dó sống, cây bị thương tích ở chỗ nào, do nguyên nhân nào, cây bị nhiễm vi khuẩn, nấm mốc hoặc nhiễm các loài ký sinh nào trên gỗ và đặc biệt là năng lực tạo ra phản ứng miễn dịch của cây dó... Chính vì có nhiều yếu tố tác động mới khiến cây dó bầu hình thành trầm nên trong điều kiện tự nhiên rất khó để có thể tìm thấy một cây dó bầu cho trầm. Cùng với việc nghiên cứu các tài liệu khoa học nước ngoài, GS. Đinh Xuân Bá cũng thường xuyên gặp gỡ những người trực tiếp đi tìm trầm để tìm hiểu thực tế. Những người có kinh nghiệm tìm trầm giải thích với ông rằng, những cây dó bầu nào cao 30-50m, lá đã vàng và nhỏ dần, thân cây có nhiều u bướu như tổ kiến, hoặc gốc có gò mối đóng thì cây dó đó có thể cho trầm hoặc cả trầm lẫn kỳ.


image
Một cục kỳ nam xịn, đắt hơn cả vàng ròng.
Khi gặp những cây dó bầu có đặc điểm đó, người ta sẽ chặt hạ cây, đào hết cả rễ rồi xả nát ra để tìm trầm. Trầm, kỳ có thể ở ngọn cây, thân cây, gốc cây, thậm chí ở rễ cây. Cũng có khi, bằng những kinh nghiệm dân gian, không cần thấy cây dó bầu, nhưng nghi ngờ quanh vùng từng có dó bầu, họ cũng tiến hành đào bới dưới lòng đất để tìm trầm, kỳ. Nếu cây dó bầu từng có trầm, nhưng cây đã chết, mục ruỗng, bị phân hủy hoàn toàn từ cả trăm năm trước, thì trầm, kỳ sẽ vẫn còn tồn tại trong lòng đất.

image
Kỳ nam loại chất lượng khá.
Giới tìm trầm thường gắn những truyền thuyết, thần thoại vào thứ gỗ đặc biệt này. Họ tin rằng, trầm, kỳ là hóa thân của vị thần Thiên Y Ana. Vì thế, trước khi đi tìm “vị thần”, họ thường ăn chay mấy ngày, ngủ riêng với vợ, không gây gổ đánh nhau, không có ý nghĩ xấu. Tìm thấy cây dó bầu rồi, họ thường nhịn đói để giữ mình thanh khiết, tắm rửa sạch sẽ dưới suối, cúng thần rừng để tạ ơn trước khi hạ cây. Trầm hương và kỳ nam đều hình thành trong lõi cây dó bầu và có cơ chế hình thành gần như nhau. Nếu tích tụ tinh dầu đậm đặc thì là kỳ. Do đó, kỳ nam nặng hơn trầm hương. Việc phân biệt trầm hương và kỳ nam vừa dễ lại vừa khó. Với trầm hương loại 4, loại 5, thì có thể phân biệt dễ dàng, nhưng trầm hương loại 1 thì chả khác gì kỳ nam, thậm chí, trầm hương loại 1 cũng chính là kỳ nam.
image
Kỳ nam chất lượng thấp.
Các nhà khoa học phân biệt dựa vào chiết xuất tinh dầu và các nghiên cứu đo đạc cụ thể, song giới mua bán, săn trầm thì dựa vào kinh nghiệm dân gian. Trầm hương có vị cay, hơi đắng, mùi thơm nhẹ nhàng, khi đốt khói lên hình vòng rồi tan nhanh trong không khí. Kỳ nam có đủ vị cay, chua, đắng, ngọt. Kỳ nam chứa đậm đặc tinh dầu nên khi cháy khói lên thẳng và cao, bay lững lờ trong không khí rất lâu. Tôi hỏi liệu trầm, kỳ có phải dược liệu hay không, GS – TS Đinh Xuân Bá lắc đầu không chắc chắn, vì chưa có nghiên cứu cụ thể về lĩnh vực này, cũng chưa thử nghiệm lâm sàng. Tuy nhiên, một số sách cổ có nhắc đến tác dụng chữa bệnh của trầm hương.
image

image
Chế tác trầm hương, kỳ nam.
Theo đó, các thầy thuốc dùng trầm hương làm thuốc bổ thận, tráng dương, tăng cường chức năng tiêu hóa, điều trị tiêu chảy, chống nôn mửa, hen suyễn, đau bụng, khó thở, thấp khớp. Ngoài ra, trầm hương còn có tác dụng giảm đau, hạ sốt, tăng sức đề kháng cho phụ nữ sau khi sinh. Kỳ nam cũng có một vài tác dụng như trầm hương, như lợi tiểu, chữa đau đầu, đau bụng, tiêu chảy, cảm mạo… Với những khả năng phòng và chữa bệnh như vậy, nên đồng bào ở vùng có trầm kỳ thường sắc loại dược liệu này với nước uống hàng ngày như trà. Một số làng bản ở vùng cao tỉnh Khánh Hòa, đồng bào còn dùng cả cục kỳ nam bọc vào tấm vải treo ở cửa sổ với ý nghĩa trừ tà khí. Trẻ em thì được đeo một miếng ở cổ hoặc tay và người ta xem đó như "bùa hộ mệnh".
image
Mẩu kỳ nam nặng 42,6g, được định giá 1.883USD
Trong các sách Đông y còn nói cả đến tác hại của trầm, kỳ. Theo đó, những phụ nữ mang thai mà uống tinh dầu trầm, kỳ sẽ bị trụy thai và những người suy nhược, suy gan, hỏa tính mà dùng trầm, kỳ sẽ có hại cho cơ thể...   GS – TS. Đinh Xuân Bá cũng thử ngâm trầm hương với rượu để dùng, song thực sự chất lượng và tác dụng thế nào thì chưa thấy rõ. Hiện ông mới chỉ dùng trầm hương vào 2 việc là làm nhang và chiết tinh dầu ngửi cho… vui. Ông thường làm đủ các loại hương vòng, hương que và những thỏi hương bé xíu, ngắn như đầu lọc thuốc lá tặng mọi người đốt cho thơm nhà. Ngoài ra, ông cũng thường xuyên tặng mọi người những lọ tinh dầu trầm nhỏ bằng ngón tay và tặng luôn chiếc máy phát tán hương trầm. Khi cắm điện, chiếc máy sẽ phát tán tinh dầu khiến căn phòng thơm mùi trầm.  Với người Việt, trầm, kỳ chỉ có những tác dụng vô cùng đơn giản như vậy mà thôi. Vậy người nước ngoài mua kỳ nam để làm gì mà chúng đắt hơn cả vàng ròng, trị giá đến gần chục tỷ đồng/kg?

Tại sao kỳ nam lại có giá đắt khủng khiếp?
Với người Việt Nam, công dụng của trầm, kỳ rất khiêm tốn. Tính dược liệu thì chỉ là nấu nước như trà uống hàng ngày để hỗ trợ điều trị một số bệnh đơn giản. Về mặt mỹ nghệ thì cũng không có gì đặc sắc, chỉ được điêu khắc làm tượng, một số sản phẩm trang trí, chế tác đồ trang sức, nhiều nhất là vòng đeo tay, tràng hạt cho những người tu hành dùng. Phần lớn trầm hương ở Việt Nam được dùng để làm nhang đốt cho thơm.
imageKỳ nam loại cấp độ giá 5.
Kỳ 3: Theo nghiên cứu của GS-TS. Đinh Xuân Bá, thị trường trầm hương trên thế giới khá rộng lớn, khắp các châu lục đều dùng. Trung Đông là nơi dùng nhiều trầm hương nhất vì họ thích mùi trầm. Người theo đạo Hồi bôi trầm hương vào người như nước hoa. Vào các nhà thờ thì thấy mùi trầm đặc quánh. Đến tấm thảm để quỳ khi hành lễ cũng được tẩm tinh dầu trầm.
image
GS. Đinh Xuân Bá giữa trang trại dó bầu của mình ở Hà Tĩnh.
Người Trung Đông tin vào khả năng trừ tà khí của trầm hương, nên công nhân, kỹ sư trong các hầm mỏ, khu vực khai thác, chế biến dầu đều sử dụng tinh dầu trầm. Trước khi làm việc, họ bôi dầu trầm lên người như phụ nữ bôi kem dưỡng da khi ra nắng. Ngoài ra, trầm hương được dùng để bảo quản xác chết, chống lại sự phân rã, bốc mùi trong điều kiện rất nóng của vùng Trung Đông. Tóm lại, với người Trung Đông, trầm hương là thứ thông dụng, dùng hàng ngày, nên không thể nói nó đắt đỏ, hoặc có tác dụng thần thánh gì cả. Họ thường sử dụng trầm hương loại 6,7 thậm chí là 8, giá chỉ vài USD đến vài chục USD một lít.  Ấn Độ cũng là thị trường tiêu thụ trầm hương rất lớn, và cũng là nước xuất khẩu loại hương liệu này. Nhưng tác dụng chính của trầm hương là sử dụng trong… thiêu xác. Khi hỏa thiêu gần xong, họ rắc bột trầm vào đống tro cốt đang nóng rẫy cho mùi thơm bốc lên, rồi mang tro cốt về thờ.
image
Cây gió bầu cho nhiều trầm trưng bày ở triển lãm sinh vật cảnh 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
Thị trường châu Âu dùng trầm hương trong công nghệ sản xuất mỹ phẩm, đặc biệt là nước hoa. Trong những lọ nước hoa đắt tiền của Pháp không thể thiếu trầm hương, nhưng tinh dầu trầm không phải là thứ trọng tâm, mà nó chỉ là chất định hương, có tác dụng giữ mùi hương lưu lại lâu hơn khi sử dụng. Vậy nên, một lọ nước hoa chỉ cần sử dụng vài giọt tinh dầu trầm. Một nhà máy, một năm sử dụng lượng trầm hương không đáng kể. Trong hoàn cảnh nguồn nguyên liệu khá dồi dào, mà sử dụng lượng trầm hương ít như vậy, thì khó có lý do gì để trầm hương đắt đỏ. Theo GS. Đinh Xuân Bá, kỳ nam hầu như không được biết đến ở Trung Đông, Ấn Độ và châu Âu, bởi vì họ không có nhu cầu sử dụng. Qua theo dõi của ông Bá, kỳ nam được xuất chủ yếu sang thị trường Đài Loan, Nhật Bản, Hồng Kông và một ít sang Trung Quốc.
image
GS. Đinh Xuân Bá và khối kỳ nam lớn.
Tìm hiểu từ giới buôn kỳ nam sang các thị trường này, thì có tin đồn rằng, Đài Loan, Trung Quốc dùng kỳ nam để chế thuốc Bắc, còn họ chế thuốc gì thì những người buôn bán kỳ nam thạo tin nhất cũng không biết. Thị trường Nhật Bản có một thời rộ lên phong trào dùng rượu ngâm với kỳ nam, mà người Nhật gọi là “kỳ nam tửu” và dùng bột kỳ nam tẩm ướp gà để nướng ăn, gọi là “kỳ nam kê”. Như vậy, kỳ nam được dùng ở những thị trường này cũng rất bình thường, không có gì đặc sắc, do đó cũng khó có thể ngờ được rằng, kỳ nam lại đắt khủng khiếp như vậy.


image
Ở Việt Nam, kỳ nam được chế tác thành chuỗi đeo tay hoặc chuỗi đeo cổ.
Như đã nói ở kỳ trước, GS-TS. Đinh Xuân Bá đã có hàng chục công trình nghiên cứu về trầm, kỳ. Các công trình khoa học của ông được viết bằng tiếng Anh và chủ yếu để người nước ngoài sử dụng. Ông và các nhà khoa học cũng đã thành công trong việc kích cảm tạo trầm bằng phương pháp nhân tạo từ rất lâu rồi. Các nhà khoa học trên thế giới tìm ra chất gì có trong trầm hương, ông cũng đã tìm ra, thậm chí tìm được nhiều hơn họ.  Mấy chục năm nghiên cứu, GS. Đinh Xuân Bá đã có tương đối đầy đủ cơ sở dữ liệu về các hoạt chất của tinh dầu trầm. Cơ sở dữ liệu hoạt chất được thống kê từ các trung tâm nghiên cứu uy tín của Mỹ, Nhật, Thái Lan, Malaisia, Ấn Độ… cũng không khác mấy với cơ sở dữ liệu các hoạt chất ông tìm ra. Dựa vào cơ sở dữ liệu về các hoạt chất này, sẽ thấy được tác dụng, giá trị của trầm hương. Thế nhưng, có một thực tế là các hoạt chất sinh học này cũng không có giá trị lớn.
image
Đục lỗi trên thân cây dó bầu để tạo trầm.

image
Cây gió bầu tiết nhựa bảo vệ vết thương và tạo thành trầm.
Hầu hết các hoạt chất sinh học có trong trầm hương thì cũng có trong kỳ nam. Riêng kỳ nam, duy nhất một hoạt chất sinh học mà nhà khoa học Nhật Bản vừa tìm ra, thì GS. Đinh Xuân Bá chưa tìm thấy.  Từ trang web www.sciencedirect.com, GS. Đinh Xuân Bá bỏ ra 30USD, để tải về một công trình nghiên cứu của các giáo sư Nhật Bản. Theo đó, tháng 12-2001, các nhà khoa học của Instilute of Natural Medicine, University of Toyama (Nhật Bản) đã mua 4,52g kỳ nam (trầm hương loại tốt nhất) của sở Khoa học và Công nghệ Khánh Hòa.  Mới đây, các giáo sư của cơ quan này đã tìm ra một sesquiterpene mới cùng với cấu trúc và chứng minh trong phòng thí nghiệm hiệu ứng kích cảm của nó trên quá trình sinh trưởng của “chất nuôi dưỡng tế bào thần kinh” BDNF.
image
Ông Jitsuo Tanaka (người Nhật) và khối trầm hương của ông Bá.
GS. Đinh Xuân Bá và các nhà khoa học Việt Nam đã tìm thấy 7 sesquiterpene trong 19 hoạt chất sinh học có trong trầm, kỳ. Tuy nhiên, ông vẫn chưa tìm thấy sesquiterpene mà các nhà khoa học Nhật công bố mới đây.  Theo các nhà khoa học Nhật Bản, hoạt chất này có khả năng điều trị một số bệnh liên quan đến thiếu hụt BDNF khiến con người bị trầm cảm, tâm thần phân liệt, tự kỷ ám thị, mất trí nhớ, Parkinson… Không cần các nhà khoa học Nhật Bản tìm ra chất này, ông Bá cũng tin rằng kỳ nam có tác dụng an thần. Tác dụng an thần được ghi rõ trong một số sách Đông y, chỉ có điều ông chưa chứng minh được bằng khoa học mà thôi. Việc các nhà khoa học tìm thấy hoạt chất này trong mẩu kỳ nam mua ở Khánh Hòa không có nghĩa là hoạt chất này sẽ có ở trong các loại trầm, kỳ. Rất nhiều cây có hoạt chất sinh học. Nhưng quá trình sinh tổng hợp và tích lũy các hoạt chất sinh học không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố di truyền (họ, chi, loài, thứ…) mà còn phụ thuộc vào điều kiện địa lý, thổ nhưỡng, sinh thái, thảm thực vật và môi trường sống. GS. Đinh Xuân Bá coi đây là tín hiệu mừng, bởi nhờ vào sesquiterpene mà các nhà khoa học Nhật Bản tìm ra, có thể là một dấu hiệu để phân biệt kỳ nam với các cấp độ trầm hương khác, hoặc phân biệt trầm hương Việt Nam với các nước khác một cách rõ ràng, chính xác và khoa học. Mặc dù các nhà khoa học Nhật Bản đã tìm ra chất bí ẩn trong kỳ nam Việt Nam, song điều đó cũng không khẳng định giá trị đắt như vàng ròng của thứ lâm sản vô cùng quý hiếm này.  Thông thường, khi loại cây cỏ gì đắt, người ta thường nghĩ ngay đến tác dụng thần kỳ của nó trong việc chữa những căn bệnh quái ác, chẳng hạn như ung thư, HIV… Người giàu sẵn sàng bỏ ra số tiền rất lớn để mua cốt mong chữa khỏi bệnh. Nếu có khả năng chữa những loại bệnh mà nền y học hiện đại bó tay, thì quả thực, giá trị của những thứ đó là không đo đếm được. Mới đây, ngày 30-6-1011,văn phòng bằng sáng chế và thương hiệu Hoa Kỳ (USPTO) đã công bố một phát minh mới của 4 nhà khoa học tại Đại học Y Đài Bắc với nội dung: “Dùng chất chiết của vỏ cây dó trầm để điều trị ung thư”. Tác giả của các phát minh này là Chinh – Chiung Wang, Lih – Geeng Chen, Ting – Lin Chang và Chi – Ting Hsieh.  Các nhà khoa học này chứng minh được rằng có thể phân lập cucurbitacins trong vỏ cây dó trầm (Aquilaria Agallocha Roxb) và chỉ ra phương pháp dùng chất chiết trong vỏ cây dó trầm nói trên để diệt tế bào ung thư, đề phòng và chữa ung thư.
image
Mẩu kỳ nam nhỏ bằng ngón tay này cũng có giá cả ngàn USD.
Ngoài ra, các nhà khoa học của Việt Nam cũng mới tìm ra hoạt chất mangiferin có khả năng tiêu diệt trực tiếp viruts Herpes simlex, virus Sitomegalo, kích thích cơ thể sản sinh interfevon, giúp cơ thể tăng khả năng chống lại các bệnh có nguồn gốc viruts. Ngoài ra, hoạt chất này còn có tác dụng hạ đường huyết.  Như vậy, hai phát hiện này rất quan trọng, bởi nó điều trị những căn bệnh nguy hiểm và phổ biến. Tuy nhiên, các hoạt chất trên được phát hiện không phải trong trầm hương và kỳ nam, mà ở vỏ cây và lá cây dó bầu. Vậy thì vỏ và lá cây dó bầu phải có giá trị hơn trầm, kỳ chứ nhỉ?

Sự thật về gốc dó bầu trị giá 1.000 tỷ đồng!
Công dụng duy nhất của kỳ nam, khiến kỳ nam đắt khủng khiếp, là làm bùa hộ mệnh. Ý nghĩa tâm linh đã đẩy giá trị của kỳ nam lên mức phi thực tế.
imageÔng Bá cho rằng kỳ nam rất ít tác dụng.
Suốt nhiều năm trời bôn ba Nam – Bắc, ra nước ngoài hàng trăm lần để nghiên cứu về kỳ nam, rồi viết rất nhiều công trình khoa học, GS-TS. Đinh Xuân Bá vẫn không thể trả lời được câu hỏi: Vì sao kỳ nam đắt hơn cả vàng ròng?  Giá trị của kỳ nam cứ tăng lên từng ngày và thật sự chóng mặt. Cách đây độ 10 năm, một kg kỳ nam thượng hạng có giá hơn 100 triệu đồng, rồi tăng lên 300 triệu, 500 triệu, 1 tỷ, và giờ đây đang là thời kỳ đỉnh cao của loài lâm sản này, khi mà người ta có thể bỏ ra ngót 10 tỷ đồng để mua một 1kg, thứ mà chính GS-TS Đinh Xuân Bá chỉ coi là… củi!
image
Đối với GS. Đinh Xuân Bá, giá trị thực sự của kỳ nam rất thấp
Chuyện một GS-TS hàng đầu Việt Nam nghiên cứu về trầm, kỳ lại coi kỳ nam là… củi thì cũng khá hài hước. Khi tôi hỏi ông về giá trị của kỳ nam so với số tiền mà người nước ngoài bỏ ra mua, GS. Đinh Xuân Bá bảo: “Mình đặt vào vị trí của họ, mình cóc mua làm gì, vì nó đắt lòi mà lại kém giá trị sử dụng!”. Chính vì lẽ đó, cách đây mấy năm, GS. Đinh Xuân Bá tuyên bố trên báo chí rằng, kỳ nam chẳng có mấy tác dụng ngoài việc ngâm rượu uống chơi và tẩm gà nướng ăn như người Nhật Bản vẫn sử dụng. Ông cũng khuyên người dân cẩn thận, kẻo bị giới buôn bán lừa đảo, giống như trò lừa đảo đồng đen. Thậm chí, các nhà khoa học Ả-rập mời ông sang thỉnh giảng về trầm hương, kỳ nam, khi họ hỏi kỳ nam có giá trị gì, ông cũng bảo chẳng có mấy giá trị! Một người nghiên cứu về trầm, kỳ, buôn bán trầm, kỳ, có cả một trang trại 10 vạn cây dó bầu lại tuyên bố như vậy, là một sự nghiêm túc và thực lòng. Suốt bao năm trời nghiên cứu ở Trung tâm Sinh học ứng dụng SECOIN tại 59 Hàng Chuối (Hà Nội), không chứng minh được giá trị tối cao của kỳ nam, nhưng từ khi về ngôi nhà bên con sông đào Bắc Hưng Hải ở Kiêu Kỵ (Gia Lâm), thì ông Bá lại trả lời được câu hỏi kỳ quái này. Hóa ra, kỳ nam đắt là vì các đại gia mua để làm… bùa. Ông là một nhà khoa học, chỉ tin vào các giá trị khoa học, không tin vào mấy trò mê tín dị đoan, nên ông cũng không thể nghĩ ra chuyện này. Nhưng điều này lại là sự thực, chỉ vì quan niệm tâm linh, giá trị của kỳ nam đã bị thổi phồng một cách ghê gớm.
Ngoài việc kỳ nam dùng vào vấn đề tâm linh, thì kỳ nam đắt cũng vì một số tin đồn chữa bệnh.  GS. Đinh Xuân Bá phát hiện ra giá trị tâm linh của kỳ nam là bởi vì mấy năm nay các đại gia nước ngoài thường tìm đến mua kỳ nam của ông. Họ coi ông là địa chỉ tin cậy, nên thường tìm đến tận nhà ông để mua.
image
Chế tác kỳ nam thành đồ trang sức.
GS-TS Đinh Xuân Bá chia kỳ nam làm 5 loại, mà ông gọi là cấp độ giá. Cấp giá cao nhất từ 350.000 đến 400.000USD/kg (7-8 tỷ đồng/kg) và cấp giá thấp nhất là từ 35.000-40.000USD/kg (700 đến 800 triệu đồng). Sở dĩ ông không chia kỳ nam thành loại 1, loại 5 rõ ràng như trầm hương là vì rất khó có cơ sở khoa học vững chắc. Vả lại, ông có phân loại cũng chẳng ai công nhận. Việc phân chia chỉ là trực quan, dựa vào tỷ trọng, hương thơm, hàm lượng tinh dầu và đưa ra giá trị. Ngay cả giới buôn kỳ nam cũng chỉ dựa vào cảm quan để mua bán, chứ không có cơ sở khoa học nào để tính chính xác giá trị của kỳ nam. GS. Đinh Xuân Bá sở hữu khá nhiều kỳ nam, song ông chỉ có loại cấp độ giá 4 và 5. Loại cấp độ giá 3 ông cũng có thể kiếm được từ giới buôn bán, thu mua mà ông quen biết, song rất ít. Riêng loại cấp độ giá 1 thì không phải muốn là có được.
image
Chuỗi hạt bằng kỳ nam.
Hồi năm ngoái, vợ chồng doanh nhân cỡ lớn của Hồng Kông, khoảng 40 tuổi, đến nhà ông để tìm hiểu về kỳ nam. Thấy có mẩu kỳ nam loại cấp độ giá 5, anh này đã hỏi mua. Ông Bá đã bán mẩu kỳ nam đó cho anh ta với giá 1.400USD. Ông Bá hỏi anh ta mua về làm gì? Anh ta bảo, mua mẩu kỳ nam đó về chế tác chiếc chuỗi đeo tay cho vợ. Cách đây mấy tháng, anh này lại đòi mua một mẩu loại 3 bằng 2 đầu ngón tay. Ông Bá lại bán cho anh ta với giá chưa đến 1 ngàn USD. Anh này bảo mua miếng kỳ nam để ở túi áo ngực nhằm tránh tai ương, bảo vệ sức khỏe. Theo anh ta, ở Hồng Kông, những người đi công tác nhiều thường mang theo mẩu kỳ nam như lá bùa hộ mệnh.
image
Người Hồng Kông để những mẩu kỳ nam nhỏ như thế này ở ngực để trừ tà, may mắn.
Rất nhiều doanh nhân Đài Loan sang gặp ông mua kỳ nam đều nói mua kỳ nam về làm chuỗi đeo tay, đeo cổ để từ tà khí. Duy nhất một doanh nhân Đài Loan, cách đây 5 tháng, gặp ông Bá mua một cục kỳ nam to bằng nắm tay với giá 92 triệu đồng để trưng bày trên… bàn thờ tổ tiên. Anh ta bảo, cứ để nguyên cục kỳ nam như thế trên bàn thờ, không chế tác gì cả.  Ông T. và bà L., cặp vợ chồng đại gia buôn bán trầm hương, nhà ở đường Điện Biên Phủ (Hà Nội) cũng học người Đài Loan làm bùa đeo. Ông T. mua của ông Bá mẩu kỳ nam chế tác thành tượng Phật, nạm vàng bên ngoài rồi hai vợ chồng cùng đeo lủng lẳng ở cổ.
image
Ông Bá và anh D., một đại gia chuyên thu mua kỳ nam của dân "đi điệu".
Trong số những người đến mua kỳ nam của GS. Đinh Xuân Bá, chỉ có 2 trường hợp mua về làm thuốc. Một trường hợp là doanh nhân người Ý. Anh này nghe đồn trầm hương và kỳ nam có khả năng chữa đau nửa đầu nên đã mua tinh dầu trầm loại xịn giá 30 ngàn USD/lít để uống. Uống tinh dầu trầm không ăn thua, anh này gặp ông Bá để mua kỳ nam. Ông Bá mô tả nguyên nhân của bệnh đau nửa đầu, cách điều trị và giải thích rõ cho anh này là kỳ nam không chắc chắn có tác dụng chữa bệnh đó, tuy nhiên anh ta không nghe, cứ nhất định đòi mua uống thử. Sau khi mua được kỳ nam của ông Bá, anh này mài uống hùng hục cả ngày. Uống hết cục kỳ nam thì thông báo cho ông Bá rằng… chả có tác dụng gì.
image

image
Miếng kỳ nam loại quý nhất, trị giá 8 tỷ đồng/kg mà bà Huỳnh Kỳ H. mua được từ giới săn trầm ở Quảng Nam.
Vị doanh nhân Đài Loan thì cứ đôi ba tháng lại đến nhà ông Bá để mua kỳ nam. Anh này cứ mua ít một. Mới đây, anh ta nhờ ông lấy hộ kỳ nam loại tốt để chữa rối loạn giấc ngủ và tăng cường năng lực… giường chiếu. Theo anh này, nếu uống kỳ nam, rồi phun tinh dầu vào giường chiếu, thì sẽ nâng cao khả năng làm cho phụ nữ sung sướng. Ông Bá cũng giải thích kỳ nam chả có tác dụng đó, song anh ta không nghe, cứ đòi mua. Ông Bá cũng dặn rằng, nếu có tác dụng thì báo cho ông. Thế nhưng, hơn tháng nay không thấy anh ta quay lại, cũng chưa thấy gọi điện báo kết quả cho ông. GS. Bá tin rằng kỳ nam chẳng có những tác dụng đồn thổi đó. Cho đến lúc này, công dụng duy nhất của kỳ nam, khiến kỳ nam đắt khủng khiếp, là làm bùa hộ mệnh. Ý nghĩa tâm linh đã đẩy giá trị của kỳ nam lên mức phi thực tế.
image
GS. Bá và bà Huỳnh Mỹ H.
Về chuyện những người dân ở xã Đại Nghĩa (Đại Lộc, Quảng Nam), đào một gốc cây dó bầu trúng 100kg kỳ nam, bán gần 1.000 tỷ đồng, GS. Đinh Xuân Bá bác bỏ hoàn toàn. GS. Bá quan hệ với hầu hết dân buôn kỳ nam, thậm chí cả người nước ngoài buôn kỳ nam.  Chuyện người dân ở xã Đại Nghĩa trúng kỳ nam là có thật, song số lượng và giá trị không phải như thế. Người mua được kỳ nam trong vụ dân làng trúng là anh M., người quen của ông Bá. Anh này chỉ mất vài tỷ để mua số kỳ nam đó thôi. Một gốc cây dó bầu có thể cho vài chục kg trầm hương, chứ không thể cho vài chục kg kỳ nam. Trong số vài chục kg trầm, có một vài kg kỳ nam đã là hiếm lắm, phải cả triệu cây mới có một cây như thế. Nhưng trong số vài kg kỳ nam đó, có 1 kg kỳ nam giá cấp độ 1 thì lại càng hiếm. Có thể, người dân ở đó trúng ổ trầm hương, gồm có cả kỳ nam, song họ không phân biệt rõ ràng được, thế là, theo tin đồn, người ta cứ nhân 9 tỷ với ngót tạ kỳ nam, thành ra tin đồn trúng gần ngàn tỷ đồng. Cứ cho là họ trúng mấy chục kg kỳ nam, nhưng toàn loại cấp độ giá 4 và 5, thì cũng chỉ được vài chục tỷ đồng là cùng. Hầu hết kỳ nam ở Việt Nam đều qua các đầu nậu mua bán, rồi lại đến tay bà Hoàng Kỳ H., người Quảng Bình, lấy chồng là thương nhân Đài Loan. Bà này thường xuyên về Việt Nam thu mua kỳ nam cung cấp cho thị trường Đài Loan, Nhật, Trung Quốc, Hồng Kông. Mỗi năm, bà H. gom được lượng kỳ nam giá trị 2 triệu USD. Năm thu gom được nhiều nhất là 5 triệu USD. Như vậy, số lượng kỳ nam ở Việt Nam tìm được mỗi năm không nhiều lắm, nên không thể có chuyện người dân đi một chuyến, đào một gốc cây dó bầu mà trúng đến 1 tạ kỳ nam, bán được gần 1.000 tỷ đồng.